Khi Sứ Vụ Được Sinh Ra Từ Cõi Lòng Có Chúa

Đời sống nội tâm trong ơn gọi không phải là một yếu tố phụ, càng không phải là một trang trí đạo đức bên ngoài cho đẹp đời tu, đời linh mục hay đời thánh hiến. Đời sống nội tâm chính là nền móng âm thầm nhưng quyết định của mọi ơn gọi. Nếu nền móng ấy vững, tòa nhà ơn gọi có thể đứng vững giữa bão tố. Nếu nền móng ấy yếu, dù bên ngoài có nhiều công trình, nhiều hoạt động, nhiều thành công, nhiều tiếng khen, nhiều chương trình mục vụ rực rỡ, thì bên trong vẫn có nguy cơ rạn nứt, khô cạn và sụp đổ.

Người được Chúa gọi không được gọi trước hết để làm một công việc, nhưng được gọi để thuộc về Chúa. Ơn gọi không khởi đi từ một kế hoạch mục vụ, một chức vụ trong Giáo Hội, một nhu cầu xã hội hay một sự phân công của con người. Ơn gọi khởi đi từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Chúa gọi trước. Chúa yêu trước. Chúa chọn trước. Chúa đặt tay trước. Chúa gieo vào lòng người một tiếng gọi vừa âm thầm vừa mãnh liệt. Vì thế, người được gọi chỉ có thể hiểu đúng ơn gọi của mình khi biết trở về với Đấng đã gọi mình. Không trở về với Chúa, ơn gọi dễ bị hiểu như một nghề nghiệp. Không ở lại với Chúa, sứ vụ dễ bị biến thành một chuỗi công việc. Không gắn bó với Chúa, đời linh mục dễ bị kéo xuống thành đời của một người quản trị tôn giáo, một người tổ chức sinh hoạt, một người điều hành cộng đoàn, nhưng thiếu hơi thở của người mục tử mang trái tim của Đức Kitô.

Cách riêng đối với linh mục, đời sống nội tâm lại càng quan trọng hơn nữa, vì linh mục không phục vụ Dân Chúa nhân danh mình, không rao giảng chính mình, không cử hành phụng vụ như một công việc riêng, cũng không điều hành giáo xứ như một sở hữu cá nhân. Linh mục được đặt giữa Dân Chúa để trở nên dấu chỉ của Đức Kitô Mục Tử. Mà nếu linh mục không ở lại trong Đức Kitô, làm sao có thể phản chiếu được dung mạo Đức Kitô? Nếu linh mục không lắng nghe tiếng Chúa trong thinh lặng, làm sao có thể nói lời của Chúa cho đoàn chiên? Nếu linh mục không để lòng mình được Chúa chạm đến mỗi ngày, làm sao có thể chạm đến những tâm hồn đang đau khổ, hoang mang, lạc hướng và khát khao được cứu độ?

Mọi hoạt động mục vụ, dù đa dạng và phong phú đến đâu, nếu không bắt nguồn từ sự hiệp thông với Thiên Chúa, sẽ rất dễ rơi vào tình trạng duy hoạt động hoặc duy hiệu năng. Duy hoạt động là khi người ta cứ làm, làm mãi, làm nhiều, làm không ngừng, nhưng lại không còn biết mình đang làm vì ai và làm trong tinh thần nào. Duy hiệu năng là khi người ta chỉ đo sứ vụ bằng con số, thành tích, lượt người tham dự, sự nổi bật bên ngoài, tiếng vang truyền thông, sự khen ngợi của cộng đoàn, mà quên mất rằng tiêu chuẩn sâu xa nhất của Tin Mừng không phải là sự ồn ào, nhưng là sự trung tín; không phải là thành công bên ngoài, nhưng là hoa trái của Thánh Thần; không phải là hào quang của người phục vụ, nhưng là vinh quang của Thiên Chúa.

Có những lúc người phục vụ Chúa có thể rất bận rộn với công việc của Chúa, nhưng lại xa dần chính Chúa. Có thể lo nhà thờ, lo lễ nghi, lo sinh hoạt, lo hội đoàn, lo truyền thông, lo xây dựng, lo tài chính, lo chương trình, lo tổ chức, nhưng lại ít cầu nguyện, ít xét mình, ít lắng nghe, ít ở lại với Chúa trong thinh lặng. Khi đó, nguy cơ lớn nhất không phải là thiếu việc, nhưng là thiếu Chúa trong việc mình làm. Không phải là không có hoạt động, nhưng là hoạt động thiếu linh hồn. Không phải là không phục vụ, nhưng là phục vụ bằng một trái tim đang cạn nguồn.

Đời sống nội tâm chính là nơi người được gọi kiểm tra lại động lực sâu xa của mình. Tôi đang làm việc này vì Chúa hay vì chính tôi? Tôi đang phục vụ Dân Chúa hay đang tìm một chỗ đứng cho bản thân? Tôi đang rao giảng Tin Mừng hay đang khẳng định cái tôi? Tôi đang xây dựng cộng đoàn hay đang xây dựng hình ảnh của mình? Tôi đang yêu thương đoàn chiên hay đang đòi đoàn chiên phải thỏa mãn nhu cầu được công nhận của tôi? Những câu hỏi ấy rất đau, nhưng rất cần. Bởi vì nếu không đi vào nội tâm, người ta rất dễ bị lừa bởi chính sự nhiệt thành của mình. Có một thứ nhiệt thành đến từ tình yêu Chúa, nhưng cũng có một thứ nhiệt thành đến từ tham vọng kín đáo. Có một sự tận tụy phát sinh từ lòng mến, nhưng cũng có một sự lao mình vào công việc để trốn tránh sự trống rỗng bên trong. Có một sự dấn thân vì phần rỗi các linh hồn, nhưng cũng có một sự dấn thân để tìm tiếng khen, quyền lực, ảnh hưởng và cảm giác mình quan trọng.

Vì thế, lời mời gọi canh tân sứ vụ truyền giáo “dựa trên cơ sở của việc chăm sóc đời sống nội tâm” là một lời mời gọi hết sức căn bản. Canh tân truyền giáo không chỉ là đổi phương pháp, đổi cách tổ chức, đổi phương tiện truyền thông, đổi mô hình mục vụ, đổi chiến lược tiếp cận con người hôm nay. Tất cả những điều đó cần thiết, nhưng chưa đủ. Nếu người truyền giáo không được canh tân từ bên trong, thì mọi phương pháp bên ngoài chỉ là chiếc áo mới khoác trên một tâm hồn cũ. Nếu trái tim mục tử không được thanh luyện, thì những phương tiện hiện đại nhất vẫn có thể trở thành công cụ phục vụ cái tôi. Nếu đời sống nội tâm không được chăm sóc, thì việc truyền giáo dễ biến thành hoạt động xã hội, kỹ thuật giao tiếp, quảng bá hình ảnh, hoặc một dạng quản trị tôn giáo có vẻ thành công nhưng thiếu chiều sâu Tin Mừng.

Chăm sóc đời sống nội tâm là trở về với nguồn. Nguồn ấy là Thiên Chúa. Linh mục không thể trao ban điều mình không có. Không thể trao bình an nếu lòng mình không ở trong Chúa. Không thể trao niềm hy vọng nếu chính mình không được Lời Chúa nâng đỡ. Không thể dẫn người khác đến cầu nguyện nếu chính mình đã bỏ cầu nguyện từ lâu. Không thể giúp người khác phân định nếu chính mình không biết phân định trước mặt Chúa. Không thể mời gọi đoàn chiên sống khiêm nhường nếu lòng mình đầy tự ái. Không thể kêu gọi cộng đoàn hiệp nhất nếu nội tâm mình đầy chia rẽ. Không thể nói về lòng thương xót nếu chính mình không thường xuyên để Chúa thương xót mình.

Đời sống nội tâm không làm người linh mục xa rời sứ vụ, nhưng giúp linh mục phục vụ đúng cách hơn. Người có đời sống nội tâm không phải là người trốn tránh công việc, nhưng là người làm việc từ một nguồn lực sâu hơn. Người có đời sống nội tâm không phải là người khép kín trong phòng riêng, nhưng là người bước ra với một trái tim đã được Chúa lấp đầy. Người có đời sống nội tâm không phải là người ít quan tâm đến thế giới, nhưng là người nhìn thế giới bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Chính khi ở lại với Chúa, linh mục mới có thể đi đến với con người mà không bị con người nuốt chửng. Chính khi đặt mình trước mặt Chúa, linh mục mới có thể đứng giữa cộng đoàn mà không biến cộng đoàn thành sân khấu cho cái tôi của mình. Chính khi biết thinh lặng trước Chúa, linh mục mới biết nói những lời có sức chữa lành.
Một linh mục thiếu đời sống nội tâm có thể vẫn làm được nhiều việc. Có thể giảng hay, tổ chức giỏi, điều hành khéo, giao tiếp rộng, được nhiều người biết đến. Nhưng nếu thiếu chiều sâu hiệp thông với Thiên Chúa, những điều ấy lâu dần sẽ trở nên mong manh. Khi gặp chống đối, sẽ dễ cay đắng. Khi không được công nhận, sẽ dễ tổn thương. Khi bị hiểu lầm, sẽ dễ phản ứng. Khi thành công, sẽ dễ tự mãn. Khi thất bại, sẽ dễ buông xuôi. Khi cô đơn, sẽ dễ tìm bù trừ. Khi mệt mỏi, sẽ dễ than trách. Khi bị phê bình, sẽ dễ phòng vệ. Khi quyền lực nằm trong tay, sẽ dễ lạm dụng. Khi được yêu mến, sẽ dễ quyến luyến. Khi bị bỏ rơi, sẽ dễ chán nản. Đời sống nội tâm không làm linh mục miễn nhiễm khỏi yếu đuối, nhưng giúp linh mục biết đem yếu đuối ấy về với Chúa để được chữa lành.

Ngược lại, khi đời sống nội tâm được chăm sóc, người được Chúa gọi dần dần học được cách sống sứ vụ như một sự tham dự vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Khi đó, linh mục không chỉ làm việc cho Chúa, nhưng làm việc vì Chúa, với Chúa và trong Chúa. Làm việc cho Chúa có khi vẫn còn nguy cơ đặt Chúa ở bên ngoài công việc, như một danh nghĩa đạo đức. Nhưng làm việc vì Chúa là để tình yêu Chúa trở thành động lực. Làm việc với Chúa là để Chúa đồng hành, hướng dẫn, thanh luyện và nâng đỡ. Làm việc trong Chúa là để toàn bộ sứ vụ được đặt trong sự hiệp thông sống động với Người. Khi ấy, công việc không còn là nơi linh mục chứng tỏ mình, nhưng là nơi linh mục để Chúa hành động qua sự nghèo hèn của mình.

Đó là một chuyển đổi rất sâu. Từ làm việc vì bổn phận sang phục vụ vì tình yêu. Từ làm việc để được công nhận sang phục vụ để Thiên Chúa được tôn vinh. Từ điều hành cộng đoàn bằng quyền lực sang chăm sóc đoàn chiên bằng trái tim mục tử. Từ mệt mỏi vì gánh nặng sang bình an vì biết mình chỉ là khí cụ. Từ lo lắng muốn kiểm soát mọi sự sang phó thác trong tay Chúa. Từ nỗi sợ thất bại sang lòng trung tín âm thầm. Từ khát vọng thành công sang niềm vui được thuộc về Chúa.

Sứ vụ khi được sinh ra từ đời sống nội tâm sẽ mang một hương vị rất khác. Nó không ồn ào nhưng sâu. Không phô trương nhưng có sức lan tỏa. Không áp đặt nhưng có sức thuyết phục. Không nóng vội nhưng bền bỉ. Không cay nghiệt nhưng đầy thương xót. Không chạy theo đám đông nhưng trung thành với Tin Mừng. Người mục tử có đời sống nội tâm có thể vẫn phải làm rất nhiều việc, vẫn phải đối diện với bao khó khăn, vẫn phải lo lắng cho cộng đoàn, vẫn phải mang những gánh nặng âm thầm không ai thấy. Nhưng trong tất cả, họ không còn đơn độc. Họ biết mình đang ở trong Chúa. Họ biết sứ vụ này không phải của riêng mình. Họ biết đoàn chiên này là của Chúa. Họ biết Giáo Hội này là của Chúa. Họ biết kết quả sau cùng thuộc về Chúa.

Chính ý thức ấy đem lại tự do nội tâm. Tự do khỏi nhu cầu phải được khen. Tự do khỏi nỗi ám ảnh phải thành công. Tự do khỏi sự so sánh với người khác. Tự do khỏi cái tôi muốn chiếm chỗ của Chúa. Tự do khỏi sự cay đắng khi bị hiểu lầm. Tự do khỏi sự sợ hãi khi phải đi qua những mùa khô cằn. Người có đời sống nội tâm không phải là người không đau, nhưng là người biết đau trong Chúa. Không phải là người không mệt, nhưng là người biết nghỉ trong Chúa. Không phải là người không cô đơn, nhưng là người biết cô đơn trước nhan Chúa. Không phải là người không bị thử thách, nhưng là người biết để thử thách thanh luyện mình.

Đời sống nội tâm cũng giúp linh mục giữ được sự trong sạch của ý hướng. Trong sứ vụ, ý hướng rất quan trọng. Cùng một việc làm, nhưng có thể phát xuất từ hai nguồn rất khác nhau. Một bài giảng có thể phát xuất từ lòng khao khát đưa người ta đến với Chúa, nhưng cũng có thể phát xuất từ nhu cầu được người ta khen là sâu sắc. Một công trình có thể được xây dựng vì ích lợi cộng đoàn, nhưng cũng có thể trở thành tượng đài cho tên tuổi cá nhân. Một quyết định mục vụ có thể đến từ phân định trong cầu nguyện, nhưng cũng có thể đến từ tự ái, quyền lực hoặc phản ứng cảm xúc. Một lời sửa dạy có thể được nói ra vì yêu thương, nhưng cũng có thể được nói ra để trút giận. Chỉ trong đời sống nội tâm, con người mới dám để Chúa soi vào những động cơ kín đáo nhất của lòng mình.

Và đó là một ân phúc. Vì không ai trong chúng ta hoàn toàn trong sạch trước mặt Chúa. Không ai bước vào ơn gọi mà không mang theo những giới hạn, thương tích, tham vọng, sợ hãi, nhu cầu được yêu thương và những vùng tối chưa được chữa lành. Đời sống nội tâm không phải là nơi ta khoe với Chúa sự thánh thiện của mình, nhưng là nơi ta để Chúa nhìn thấy sự nghèo nàn của ta. Không phải là nơi ta trình diễn đạo đức, nhưng là nơi ta thành thật thưa: “Lạy Chúa, con yếu đuối. Con cần Chúa. Xin đừng để con làm việc của Chúa mà xa Chúa. Xin đừng để con nói về Chúa mà lòng con nguội lạnh với Chúa. Xin đừng để con chăm sóc đoàn chiên mà quên chăm sóc linh hồn mình. Xin đừng để con nhân danh Chúa mà tìm chính con.”

Một linh mục càng phục vụ nhiều càng cần cầu nguyện nhiều. Càng đứng trước cộng đoàn càng cần quỳ trước Chúa. Càng nói nhiều với người khác càng cần thinh lặng nhiều với Chúa. Càng phải quyết định nhiều càng cần phân định nhiều. Càng được người ta tìm đến càng cần trở về với nơi cô tịch để gặp Chúa. Không phải vì cầu nguyện là một việc thêm vào bên cạnh sứ vụ, nhưng vì cầu nguyện là hơi thở của sứ vụ. Không cầu nguyện, sứ vụ nghẹt thở. Không nội tâm, hoạt động mục vụ mất linh hồn. Không hiệp thông với Chúa, người phục vụ dễ trở thành chiếc bình rỗng, bên ngoài còn hình dáng, nhưng bên trong không còn nước hằng sống.

Đức Giêsu chính là mẫu gương tuyệt hảo của đời sống nội tâm trong sứ vụ. Người rao giảng, chữa lành, trừ quỷ, gặp gỡ đám đông, chạnh lòng thương dân chúng, cúi xuống với người nghèo, đón nhận tội nhân, nâng dậy kẻ bị loại trừ. Nhưng giữa nhịp sống đầy sứ vụ ấy, Người vẫn rút lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Người không để đám đông quyết định căn tính của mình. Người không để thành công bên ngoài kéo mình xa khỏi Chúa Cha. Người sống mọi sự trong tương quan mật thiết với Cha. Lương thực của Người là thi hành ý muốn của Cha. Sứ vụ của Người phát xuất từ Cha, quy hướng về Cha và hoàn tất trong sự vâng phục Cha. Vì thế, ai muốn phục vụ theo cung cách của Đức Kitô, không thể bỏ qua con đường nội tâm của Đức Kitô.

Giáo Hội hôm nay rất cần những người phục vụ có khả năng làm việc, nhưng còn cần hơn những người phục vụ có chiều sâu. Cần những linh mục biết tổ chức, nhưng còn cần hơn những linh mục biết cầu nguyện. Cần những mục tử biết nói, nhưng còn cần hơn những mục tử biết lắng nghe Chúa. Cần những người biết sử dụng phương tiện hiện đại, nhưng còn cần hơn những người có trái tim được Tin Mừng uốn nắn. Cần những chương trình mục vụ, nhưng còn cần hơn những tâm hồn mục tử. Cần những chiến lược truyền giáo, nhưng còn cần hơn những con người đã được tình yêu Chúa chiếm hữu.

Bởi vì sau cùng, điều chạm đến lòng người không chỉ là tài năng của linh mục, nhưng là sự hiện diện của Chúa nơi linh mục. Người ta có thể bị thu hút bởi một bài giảng hay, nhưng điều giúp họ hoán cải là gặp được ánh sáng của Chúa. Người ta có thể khâm phục một tổ chức giỏi, nhưng điều làm họ cảm thấy được nâng đỡ là gặp được lòng thương xót. Người ta có thể thích một linh mục vui tính, thân thiện, hoạt bát, nhưng điều họ cần sâu xa là một mục tử có khả năng đưa họ về với Thiên Chúa. Và điều ấy chỉ có thể có được khi chính linh mục đã thường xuyên trở về với Thiên Chúa trong đời sống nội tâm.

Đời sống nội tâm không làm cho sứ vụ nhỏ lại, nhưng làm cho sứ vụ trở nên đúng hướng. Không làm cho linh mục kém năng động, nhưng làm cho sự năng động được thanh luyện. Không làm cho người phục vụ ít dấn thân hơn, nhưng giúp họ dấn thân với một trái tim tự do hơn. Khi đời sống nội tâm được chăm sóc, công việc mục vụ không còn là gánh nặng đè bẹp linh hồn, nhưng trở thành nơi gặp gỡ Chúa. Những bổn phận hằng ngày không còn chỉ là chuỗi nhiệm vụ phải hoàn thành, nhưng là cơ hội để yêu mến. Những vất vả không còn vô nghĩa, vì được kết hợp với thập giá Đức Kitô. Những hy sinh không còn cay đắng, vì được đặt trong tình yêu cứu độ. Những thất bại không còn là dấu chấm hết, vì người phục vụ biết rằng Chúa vẫn âm thầm làm việc trong những gì nhỏ bé, nghèo nàn và bất toàn.

Có lẽ một trong những cám dỗ lớn nhất của người phục vụ hôm nay là đánh mất chiều sâu trong một thế giới quá nhiều tiếng động. Tiếng động của công việc. Tiếng động của mạng xã hội. Tiếng động của dư luận. Tiếng động của kỳ vọng. Tiếng động của thành tích. Tiếng động của so sánh. Tiếng động của những nhu cầu mục vụ không bao giờ hết. Nếu không có đời sống nội tâm, linh mục dễ bị cuốn đi, dễ sống theo phản ứng, dễ để bên ngoài điều khiển bên trong. Nhưng nếu biết chăm sóc cõi lòng, biết trở về với thinh lặng, biết đặt mình trước Chúa, biết lắng nghe Lời Chúa, biết để Thánh Thần chỉnh sửa mình mỗi ngày, linh mục sẽ dần có được sự vững vàng của người đặt đời mình trên đá tảng.

Đó là điều Dân Chúa mong chờ nơi người mục tử: không phải một con người hoàn hảo, nhưng một con người thuộc về Chúa; không phải một người không bao giờ yếu đuối, nhưng một người biết khiêm tốn để Chúa nâng dậy; không phải một người làm được mọi sự, nhưng một người biết dẫn đoàn chiên đến với Đấng làm được mọi sự; không phải một người chỉ giỏi nói về Thiên Chúa, nhưng là một người có đời sống làm chứng rằng Thiên Chúa là thật, tình yêu Chúa là thật, lòng thương xót Chúa là thật, và ơn gọi linh mục là một hồng ân thật.

Vì thế, chăm sóc đời sống nội tâm không phải là xa xỉ phẩm thiêng liêng dành cho những lúc rảnh rỗi. Đó là điều sống còn. Sống còn cho ơn gọi. Sống còn cho sứ vụ. Sống còn cho sự trung tín. Sống còn cho niềm vui linh mục. Sống còn cho sức sống của cộng đoàn. Khi linh mục chăm sóc đời sống nội tâm, không chỉ linh mục được đổi mới, mà cả cộng đoàn cũng được hưởng nhờ. Bởi vì một trái tim có Chúa sẽ tỏa ra bình an. Một tâm hồn cầu nguyện sẽ gieo được niềm tin. Một mục tử sống trong hiệp thông với Chúa sẽ giúp đoàn chiên cảm nhận rằng Giáo Hội không chỉ là một cơ cấu, nhưng là nhà của lòng thương xót, là nơi con người được gặp Thiên Chúa hằng sống.

Sau cùng, đời sống nội tâm trong ơn gọi là trở về với câu hỏi căn bản nhất: Chúa có còn là trung tâm đời tôi không? Nếu Chúa còn là trung tâm, mọi sự sẽ tìm được trật tự của nó. Công việc sẽ không nuốt mất linh hồn. Thành công sẽ không làm ta kiêu căng. Thất bại sẽ không làm ta tuyệt vọng. Lời khen sẽ không làm ta say men chính mình. Lời chê sẽ không làm ta gãy đổ. Sứ vụ sẽ không còn là sân khấu của cái tôi, nhưng là bàn thờ của tình yêu. Đời linh mục sẽ không còn là một chuỗi ngày bị kéo đi bởi vô số bổn phận, nhưng là một hành trình được hiến dâng trong Đức Kitô, với Đức Kitô và nhờ Đức Kitô.

Người được Chúa gọi cần đời sống nội tâm như cây cần rễ, như đèn cần dầu, như suối cần nguồn, như người lữ hành cần phương hướng. Rễ càng sâu, cây càng vững. Dầu càng đầy, đèn càng sáng. Nguồn càng trong, suối càng mát. Hướng càng rõ, bước chân càng bình an. Một ơn gọi không có đời sống nội tâm sẽ sớm mỏi mệt. Một sứ vụ không có hiệp thông với Chúa sẽ sớm khô cằn. Một linh mục không chăm sóc linh hồn mình sẽ khó chăm sóc linh hồn người khác cách sâu xa. Nhưng một linh mục biết ở lại với Chúa, biết để Chúa yêu mình, sửa mình, thanh luyện mình và sai mình đi, thì dù âm thầm, dù nhỏ bé, dù không được nhiều người biết đến, vẫn có thể trở thành khí cụ của ân sủng.

Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là làm được bao nhiêu việc cho Chúa, nhưng là trong mọi việc ấy, ta có còn ở trong Chúa hay không. Không chỉ là phục vụ Dân Chúa, nhưng là phục vụ Dân Chúa bằng trái tim của Chúa. Không chỉ là chu toàn sứ vụ, nhưng là để sứ vụ trở thành con đường nên thánh. Không chỉ là đi ra với con người, nhưng là đi ra từ sự hiệp thông với Thiên Chúa. Khi đời sống nội tâm được chăm sóc, sứ vụ sẽ không còn là gánh nặng đè nặng đôi vai, nhưng là lời đáp yêu thương của một trái tim đã được Chúa gọi, Chúa chạm, Chúa biến đổi và Chúa sai đi.

Lm. Anmai, CSsR