Trở Về Cõi Lòng Để Nghe Tiếng Chúa Gọi

Đời sống nội tâm trong ơn gọi là gì?

Đó là một câu hỏi rất đơn sơ, nhưng càng suy nghĩ, ta càng thấy câu hỏi ấy chạm đến phần sâu nhất của đời người. Bởi vì nói đến ơn gọi là nói đến một tiếng gọi. Mà đã là tiếng gọi, thì phải có Đấng gọi và có người được gọi. Đã có Đấng gọi, thì phải có một nơi nào đó trong con người đủ thinh lặng để nghe. Đã có người được gọi, thì cũng phải có một cõi lòng đủ khiêm tốn để đáp trả. Vì thế, đời sống nội tâm trong ơn gọi không phải là một phần phụ của đời sống thiêng liêng, càng không phải là một thứ trang trí đạo đức bên ngoài, nhưng là chính mảnh đất sâu thẳm nơi hạt giống ơn gọi được Thiên Chúa gieo xuống, âm thầm nảy mầm, lớn lên, chịu thử thách, được thanh luyện và sinh hoa trái.

Có người nghĩ đời sống nội tâm là sống khép kín. Không phải. Có người tưởng đời sống nội tâm là ít nói, ít giao tiếp, ít xuất hiện. Cũng không hẳn. Có người đồng hóa đời sống nội tâm với vài việc đạo đức bên ngoài: đọc kinh nhiều, làm việc thiêng liêng đều đặn, giữ luật nghiêm túc, có phong thái trầm mặc. Những điều ấy có thể là dấu chỉ tốt, nhưng chưa chắc đã là đời sống nội tâm đúng nghĩa. Bởi vì người ta có thể làm rất nhiều việc đạo đức mà lòng vẫn xa Chúa. Người ta có thể giữ rất nhiều hình thức bên ngoài mà bên trong vẫn đầy cái tôi, đầy tìm kiếm mình, đầy hơn thua, đầy lo âu, đầy bất an. Người ta cũng có thể nói rất ít mà lòng vẫn đầy phán xét. Có thể sống rất “đạo đức” mà chưa thật sự để Thiên Chúa đụng chạm vào chiều sâu của linh hồn mình.

Đời sống nội tâm trong ơn gọi trước hết là hành trình trở về. Trở về với lòng mình. Trở về với nơi sâu nhất của con người mình. Trở về không phải để tự ngắm mình, tự thương mình, tự khép mình trong một thế giới riêng tư, nhưng để nhận ra nơi ấy có một Đấng đã hiện diện trước cả khi ta ý thức về Ngài. Trong tận đáy lòng ta, Thiên Chúa đã chờ ta từ lâu. Trong những khát vọng sâu kín nhất, trong những thao thức không gọi thành tên, trong những giằng co giữa ánh sáng và bóng tối, trong những mệt mỏi của một đời muốn sống cho đúng, trong những nước mắt không ai thấy, trong những lần ta tự hỏi: “Lạy Chúa, con là ai trước mặt Chúa?”, chính ở đó, ơn gọi bắt đầu được lắng nghe.

Ơn gọi không khởi đi từ tham vọng của con người. Ơn gọi không bắt đầu từ một dự án cá nhân. Ơn gọi càng không phải là một nghề nghiệp đạo đức để người ta tự chọn theo sở thích. Ơn gọi là một hồng ân. Mà hồng ân thì luôn đi trước. Chúa gọi trước khi ta xứng đáng. Chúa yêu trước khi ta đáp lại. Chúa gieo trước khi ta biết mình là mảnh đất. Chúa âm thầm chuẩn bị ta qua gia đình, hoàn cảnh, biến cố, vết thương, niềm vui, thất bại, những cuộc gặp gỡ, những mất mát, những lần lạc đường và cả những lần được kéo về. Đời sống nội tâm giúp ta đọc lại tất cả những điều ấy không như những mảnh vụn rời rạc, nhưng như một lịch sử cứu độ riêng tư, nơi Thiên Chúa đã kiên nhẫn dệt nên hành trình của ta bằng lòng thương xót.

Vì thế, người không có đời sống nội tâm rất dễ hiểu sai ơn gọi. Họ có thể xem ơn gọi như một chức vụ, một vị trí, một vai trò, một danh xưng, một chỗ đứng trong cộng đoàn. Khi ấy, ơn gọi không còn là tiếng Chúa gọi để hiến thân, nhưng có nguy cơ trở thành nơi con người tìm mình. Tìm sự an toàn. Tìm sự công nhận. Tìm quyền lực tinh vi. Tìm một căn tính bên ngoài để bù đắp cho những trống rỗng bên trong. Và khi gặp thử thách, khi không được người khác nhìn nhận, khi bị hiểu lầm, khi phải sống âm thầm, khi không còn hào quang, khi công việc không như ý, khi cộng đoàn không như mơ ước, người ấy dễ chao đảo, dễ cay đắng, dễ mất lửa, vì nền tảng ơn gọi của họ không đặt sâu trong Thiên Chúa, mà đặt trên phản ứng của người đời.

Đời sống nội tâm giúp người được gọi phân biệt đâu là tiếng Chúa và đâu là tiếng của cái tôi. Đây là một phân định rất quan trọng. Không phải mọi ước muốn tốt đều đến từ Chúa. Không phải mọi nhiệt thành đều là thánh thiện. Không phải mọi thành công đều là dấu Chúa chúc lành. Không phải mọi chống đối đều là dấu mình đang đi sai. Trong đời sống ơn gọi, có những lúc ta làm việc cho Chúa nhưng lại âm thầm tìm mình. Có khi ta nói về Chúa nhưng lòng muốn người ta khen mình. Có khi ta phục vụ cộng đoàn nhưng lại mong cộng đoàn lệ thuộc vào mình. Có khi ta hy sinh thật nhiều nhưng bên trong lại tích lũy một thứ quyền đòi hỏi: “Tôi đã làm nhiều như thế, tôi phải được tôn trọng, phải được biết ơn, phải được đối xử thế này thế kia.” Nếu không có đời sống nội tâm, ta không nhận ra những chuyển động tinh vi ấy. Ta tưởng mình đang phụng sự Chúa, nhưng thật ra đang dùng việc của Chúa để nuôi cái tôi của mình.

Bởi đó, đời sống nội tâm là nơi sự thật được phơi bày. Và sự thật ấy nhiều khi không dễ chịu. Trở về lòng mình không phải lúc nào cũng êm đềm. Có khi trở về là gặp sự nghèo nàn của mình. Gặp những vết thương chưa lành. Gặp những động cơ chưa trong sạch. Gặp những ghen tị ta không muốn nhận. Gặp những tham vọng được che đậy bằng ngôn ngữ thiêng liêng. Gặp những nỗi sợ rất người. Gặp cả những vùng tối mà ta đã quen né tránh. Nhưng chính nơi đó, Thiên Chúa không đến để kết án. Ngài đến để cứu. Ngài không soi sáng cõi lòng ta nhằm làm ta tuyệt vọng, nhưng để ta thôi ảo tưởng về mình và bắt đầu đặt hy vọng nơi Ngài.

Một người sống đời nội tâm không phải là người không còn yếu đuối. Trái lại, đó là người biết yếu đuối của mình đang được đặt trong lòng thương xót Chúa. Người ấy không còn quá sợ sự thật về bản thân, vì biết sự thật ấy không lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa. Người ấy dám nhìn nhận mình mong manh, vì biết ơn gọi không được xây trên sức riêng, nhưng trên ân sủng. Người ấy dám thưa: “Lạy Chúa, con không xứng đáng, nhưng Chúa đã gọi con. Con không đủ sức, nhưng Chúa là sức mạnh của con. Con không trong sạch như con tưởng, nhưng xin Chúa thanh luyện con. Con không yêu Chúa như con nói, nhưng xin dạy con yêu Chúa bằng sự thật của đời con.”

Đời sống nội tâm trong ơn gọi cũng là nơi con người học lắng nghe. Thời đại hôm nay quá ồn. Ồn bên ngoài và ồn cả bên trong. Bên ngoài là tiếng mạng xã hội, tiếng dư luận, tiếng khen chê, tiếng thông tin cuồn cuộn, tiếng thành công, tiếng cạnh tranh, tiếng gọi mời hưởng thụ. Bên trong là tiếng lo lắng, tiếng tự ái, tiếng so sánh, tiếng bất mãn, tiếng mặc cảm, tiếng muốn được chú ý, tiếng sợ thua kém người khác. Giữa muôn vàn tiếng ấy, tiếng Chúa thường rất nhẹ. Chúa không la hét trong linh hồn. Chúa không áp đặt bằng bạo lực. Chúa thường nói trong thinh lặng, trong bình an sâu xa, trong một ánh sáng hiền lành, trong một lời mời gọi âm thầm nhưng bền bỉ. Ai không có đời sống nội tâm sẽ dễ bị cuốn đi bởi tiếng ồn. Ai không tập thinh lặng sẽ khó nghe được tiếng Chúa. Ai không ở lại với Chúa sẽ dễ chạy theo tiếng của đám đông.

Nhưng thinh lặng Kitô giáo không phải là khoảng trống lạnh lẽo. Thinh lặng trong đời sống nội tâm là thinh lặng có Chúa. Là sự lặng xuống của cái tôi để Lời Chúa vang lên. Là sự rút lui khỏi náo động không phải vì chán đời, nhưng vì muốn được sai vào đời với trái tim đã được Chúa chạm tới. Một người cầu nguyện thật không trốn tránh thế giới. Người ấy đi vào lòng Thiên Chúa để rồi trở lại với thế giới bằng lòng thương xót của Thiên Chúa. Một người sống nội tâm thật không trở nên xa cách anh em. Người ấy trở nên sâu hơn, hiền hơn, thật hơn, tự do hơn và có khả năng yêu thương hơn.

Do đó, đời sống nội tâm không đối nghịch với sứ vụ. Trái lại, đời sống nội tâm là linh hồn của sứ vụ. Không có đời sống nội tâm, hoạt động tông đồ dễ trở thành hoạt động xã hội thuần túy. Không có cầu nguyện, phục vụ dễ biến thành biểu diễn. Không có kết hợp với Chúa, lời giảng dễ trở thành diễn văn. Không có thinh lặng bên trong, người phục vụ dễ bị kiệt sức, cay đắng, nóng nảy, muốn kiểm soát, muốn thống trị. Không có đời sống nội tâm, ta có thể làm rất nhiều việc cho Chúa mà dần dần đánh mất chính Chúa.

Đây là một nguy cơ rất lớn trong mọi ơn gọi, nhất là ơn gọi thánh hiến, linh mục, tu sĩ, tông đồ. Người ta có thể bận rộn vì Chúa đến mức không còn giờ cho Chúa. Có thể tổ chức rất nhiều chương trình nhưng lòng khô cạn. Có thể nói về cầu nguyện nhưng chính mình không cầu nguyện. Có thể khuyên người khác tín thác nhưng bản thân đầy hoang mang. Có thể dạy người khác sống khiêm nhường nhưng lòng âm thầm tìm vị trí. Có thể đứng trước bàn thờ mỗi ngày nhưng trái tim lại xa bàn thờ. Khi đời sống nội tâm yếu đi, ơn gọi không sụp đổ ngay. Nó khô từ từ. Mất lửa từ từ. Mất niềm vui từ từ. Mất sự nhạy bén thiêng liêng từ từ. Và điều đáng sợ nhất là người ta có thể vẫn tiếp tục làm mọi sự bình thường, nhưng bên trong đã không còn thuộc về Chúa cách sâu xa nữa.

Đời sống nội tâm giúp người sống ơn gọi luôn trở về với câu hỏi căn bản: “Tại sao tôi bắt đầu?” Ngày đầu tiên ta nghe tiếng Chúa, có thể lòng ta rất đơn sơ. Ta muốn thuộc về Chúa. Ta muốn dâng đời mình. Ta muốn yêu mến Chúa. Ta muốn phục vụ các linh hồn. Ta muốn sống một đời có ý nghĩa. Nhưng theo năm tháng, nhiều lớp bụi có thể phủ lên lời thưa ban đầu ấy. Bụi của công việc. Bụi của thói quen. Bụi của thành công. Bụi của thất bại. Bụi của tổn thương. Bụi của mệt mỏi. Bụi của những toan tính rất người. Đời sống nội tâm là cuộc trở về để Chúa thổi sạch lớp bụi ấy, để ta nghe lại tiếng gọi ban đầu, không phải như một kỷ niệm xa xôi, nhưng như một giao ước vẫn còn sống động hôm nay.

Người sống nội tâm là người biết canh giữ trái tim. Trong Kinh Thánh, trái tim không chỉ là nơi của cảm xúc, nhưng là trung tâm của con người, nơi quyết định, nơi chọn lựa, nơi tin yêu, nơi phản bội, nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Giữ trái tim không phải là làm cho lòng mình cứng lại. Giữ trái tim là không để nó bị chiếm đoạt bởi những điều không phải Chúa. Giữ trái tim là nhận ra điều gì đang điều khiển mình. Tôi đang phục vụ vì tình yêu hay vì nhu cầu được công nhận? Tôi đang vâng phục vì đức tin hay vì sợ hãi? Tôi đang im lặng vì khiêm nhường hay vì giận dỗi? Tôi đang nói sự thật vì bác ái hay vì muốn làm đau người khác? Tôi đang nhiệt thành vì Nước Chúa hay vì muốn chứng minh mình đúng? Những câu hỏi như thế không nhằm làm ta phức tạp hóa đời sống, nhưng giúp ta sống thật hơn trước mặt Chúa.

Đời sống nội tâm cũng là nơi ơn gọi được thanh luyện qua đau khổ. Không có ơn gọi nào không đi qua thập giá. Có những thập giá bên ngoài: hiểu lầm, cô đơn, thất bại, bệnh tật, giới hạn của cộng đoàn, những khô khan trong sứ vụ, những điều không như mong muốn. Nhưng cũng có những thập giá bên trong: cảm giác không được yêu, nỗi sợ bị bỏ rơi, sự trống vắng, những cơn cám dỗ bỏ cuộc, những lúc cầu nguyện mà không thấy gì, những khi làm điều tốt mà lòng không còn vui, những ngày thấy mình nghèo nàn đến mức xấu hổ trước Chúa. Nếu không có đời sống nội tâm, đau khổ dễ làm ta cay đắng. Nhưng nếu biết đưa đau khổ vào cầu nguyện, đau khổ có thể trở thành nơi Chúa thanh luyện tình yêu.

Bởi vì tình yêu trong ơn gọi cần được thanh luyện. Lúc đầu, ta có thể yêu Chúa bằng nhiều cảm xúc đẹp. Nhưng dần dần, Chúa mời ta yêu Ngài bằng sự trung tín. Trung tín khi không còn hứng thú. Trung tín khi không được ai thấy. Trung tín khi lời cầu nguyện khô khan. Trung tín khi việc phục vụ không được đáp lại. Trung tín khi phải yêu những người khó yêu. Trung tín khi phải vâng lời trong điều mình không thích. Trung tín khi phải tiếp tục bước đi dù lòng mệt mỏi. Đời sống nội tâm làm cho ta hiểu rằng ơn gọi không chỉ là những giây phút sốt sắng, nhưng là một đời thuộc về Chúa trong từng chọn lựa nhỏ bé mỗi ngày.

Ở chiều sâu nhất, đời sống nội tâm trong ơn gọi là sống trong tương quan cá vị với Thiên Chúa. Không phải chỉ biết về Chúa, nhưng biết Chúa. Không phải chỉ học giáo lý về Chúa, nhưng gặp Chúa. Không phải chỉ nói về tình yêu Thiên Chúa, nhưng để mình được yêu bởi Thiên Chúa. Đây là điều rất quan trọng. Nhiều khi người sống ơn gọi có thể làm chứng về tình yêu Chúa cho người khác, nhưng chính mình lại không để tình yêu ấy chạm vào các vết thương sâu nhất của lòng mình. Họ nói “Chúa yêu thương anh chị em”, nhưng trong thâm tâm lại nghĩ “không biết Chúa có thật sự yêu tôi không.” Họ khuyên người khác tín thác, nhưng chính mình âm thầm sống như kẻ mồ côi thiêng liêng. Họ phục vụ nhiều người, nhưng lại không biết nghỉ ngơi trong vòng tay Cha.

Đời sống nội tâm chữa lành căn bệnh mồ côi ấy. Nó đưa ta vào kinh nghiệm nền tảng: tôi là người được yêu. Trước khi tôi làm gì cho Chúa, tôi được Chúa yêu. Trước khi tôi thành công hay thất bại, tôi được Chúa yêu. Trước khi tôi thánh thiện hơn, tôi đã được Chúa yêu. Trước khi tôi đáp trả, Chúa đã gọi tên tôi. Khi người sống ơn gọi đánh mất kinh nghiệm được yêu, họ rất dễ biến ơn gọi thành gánh nặng. Nhưng khi họ sống từ kinh nghiệm được yêu, mọi hy sinh có thể trở nên nhẹ hơn, vì không còn là sự gồng gánh của một kẻ phải chứng minh mình xứng đáng, nhưng là lời đáp của một người biết mình được yêu nhưng không.

Đời sống nội tâm cũng giúp ta sống tự do. Tự do không phải là muốn làm gì thì làm. Tự do trong ơn gọi là không bị điều gì ngoài Thiên Chúa làm chủ trái tim mình. Không bị lời khen làm say. Không bị lời chê làm gục. Không bị thành công làm kiêu. Không bị thất bại làm tuyệt vọng. Không bị so sánh làm mất bình an. Không bị quá khứ cầm tù. Không bị tương lai làm hoảng sợ. Người sống nội tâm biết mình thuộc về ai. Và khi biết mình thuộc về Chúa, họ không cần bám víu quá chặt vào những bảo đảm bên ngoài. Họ có thể phục vụ mà không chiếm hữu. Có thể yêu thương mà không thao túng. Có thể lãnh trách nhiệm mà không biến mình thành trung tâm. Có thể rút lui khi cần mà không cay đắng. Có thể bị quên lãng mà vẫn bình an, vì Thiên Chúa nhớ đến họ.

Một dấu chỉ của đời sống nội tâm trưởng thành là lòng khiêm nhường. Khiêm nhường không phải là tự khinh mình, cũng không phải là nói xấu bản thân để được người khác khen ngược lại. Khiêm nhường là sống trong sự thật. Tôi biết tôi có gì là do Chúa ban. Tôi biết tôi yếu đuối và cần được cứu. Tôi biết người khác cũng là hồng ân của Chúa. Tôi biết ơn gọi của tôi không làm tôi cao hơn ai, nhưng đặt tôi vào vị trí phải yêu thương nhiều hơn, phục vụ nhiều hơn, chịu trách nhiệm nhiều hơn. Người có đời sống nội tâm càng sâu càng bớt ồn ào về mình. Họ không cần lúc nào cũng chứng minh. Không cần lúc nào cũng giải thích. Không cần lúc nào cũng thắng. Họ có một sự vững vàng âm thầm vì đã cắm rễ trong Thiên Chúa.
Một dấu chỉ khác là lòng thương xót. Người thật sự đi vào nội tâm sẽ không trở nên khắc nghiệt với người khác, vì họ đã gặp sự nghèo nàn của chính mình và đã được Chúa xót thương. Ai chưa từng để Chúa chạm vào vết thương của mình thường dễ làm tổn thương vết thương của người khác. Ai chưa nhận mình cần được tha thứ thường khó tha thứ. Ai chưa chấp nhận mình mong manh thường khinh thường sự mong manh của anh em. Nhưng người sống nội tâm biết rằng mỗi linh hồn là một mầu nhiệm. Họ không vội kết án. Không dễ dán nhãn. Không thích dùng sự thật như hòn đá ném vào người khác. Họ biết sửa dạy trong yêu thương, nói sự thật trong khiêm tốn, và nâng đỡ người yếu đuối bằng chính lòng nhân từ mà họ đã nhận được từ Chúa.

Đời sống nội tâm trong ơn gọi không chỉ được nuôi dưỡng bằng những khoảnh khắc đặc biệt, nhưng bằng kỷ luật thiêng liêng hằng ngày. Cầu nguyện. Lắng nghe Lời Chúa. Xét mình. Thinh lặng. Chầu Thánh Thể. Lãnh nhận bí tích. Đọc lại ngày sống trước mặt Chúa. Tập phân định các chuyển động trong lòng. Tập sống chậm lại để nhận ra Chúa đang đi qua. Tập không phản ứng ngay theo cảm xúc. Tập đưa những tổn thương vào lời cầu nguyện thay vì biến chúng thành lời cay độc. Tập hỏi Chúa trước khi quyết định. Tập cảm ơn. Tập xin lỗi. Tập để Chúa là Chúa trong đời mình.

Nói như thế không có nghĩa đời sống nội tâm chỉ dành cho linh mục, tu sĩ hay người sống đời thánh hiến. Mọi Kitô hữu đều cần đời sống nội tâm, vì mọi người đều có ơn gọi. Ơn gọi làm con Chúa. Ơn gọi nên thánh. Ơn gọi sống bậc gia đình, độc thân, tu trì, linh mục, phục vụ, làm chứng giữa đời. Một người cha, người mẹ không có đời sống nội tâm sẽ dễ bị cuốn vào cơm áo, lo toan, nóng giận, áp lực, và quên mất gia đình là nơi Chúa trao để yêu thương. Một người trẻ không có đời sống nội tâm sẽ dễ để mạng xã hội, đám đông, xu hướng và cảm xúc nhất thời định nghĩa đời mình. Một người phục vụ giáo xứ không có đời sống nội tâm sẽ dễ biến việc chung thành sân khấu của cái tôi. Một người tu trì không có đời sống nội tâm sẽ dễ sống theo hình thức. Một linh mục không có đời sống nội tâm sẽ có nguy cơ trở thành người làm dịch vụ tôn giáo hơn là mục tử mang trái tim Chúa Kitô.

Vì vậy, câu hỏi “Đời sống nội tâm trong ơn gọi là gì?” cuối cùng dẫn ta đến một câu trả lời rất sâu: đó là đời sống của một người để Thiên Chúa cư ngụ, lên tiếng, thanh luyện, biến đổi và sai đi từ bên trong. Không phải một đời sống khép kín, nhưng là một chiều sâu mở ra. Không phải trốn đời, nhưng là đi vào lòng Chúa để yêu đời bằng tình yêu của Chúa. Không phải tự phân tích mình mãi, nhưng là để Chúa soi sáng con người thật của mình. Không phải tìm kiếm cảm giác đạo đức, nhưng là trung thành ở lại với Chúa trong sự thật. Không phải một kiến thức trừu tượng về ơn gọi, nhưng là cuộc gặp gỡ cá vị làm thay đổi cả đời người.

Người có đời sống nội tâm sẽ dần dần hiểu rằng ơn gọi không chỉ là điều mình làm, nhưng là con người mình trở thành trước mặt Chúa. Không chỉ là chức năng, nhưng là căn tính. Không chỉ là sứ vụ, nhưng là hiệp thông. Không chỉ là ra đi, nhưng trước hết là ở lại. Ở lại trong tình yêu Chúa. Ở lại trong Lời Chúa. Ở lại trong sự thật về mình. Ở lại trong lòng thương xót. Ở lại trong giao ước ban đầu. Và từ sự ở lại ấy, người được gọi mới có thể ra đi mà không đánh mất linh hồn mình.

Có lẽ bi kịch lớn nhất của đời sống ơn gọi không phải là thiếu việc làm, nhưng là thiếu chiều sâu. Không phải là thiếu hoạt động, nhưng là thiếu lửa bên trong. Không phải là thiếu tiếng nói, nhưng là thiếu lắng nghe. Không phải là thiếu thành công, nhưng là thiếu kết hợp với Chúa. Một đời sống ơn gọi có thể rất bận rộn mà vẫn rỗng. Có thể rất nổi bật mà vẫn cô đơn. Có thể rất hiệu quả mà vẫn không thánh thiện. Có thể được nhiều người biết đến mà chính mình lại không còn nhận ra tiếng Chúa trong lòng.

Bởi đó, điều cần xin mỗi ngày không chỉ là xin Chúa cho ta làm được nhiều việc, nhưng xin Chúa cho ta có một trái tim thuộc về Ngài. Xin cho ta biết trở về. Trở về khi lòng tán loạn. Trở về khi kiêu ngạo. Trở về khi mệt mỏi. Trở về khi muốn bỏ cuộc. Trở về khi bị tổn thương. Trở về khi thành công làm ta quên Chúa. Trở về khi thất bại làm ta nghi ngờ Chúa. Trở về để nghe lại tiếng Ngài gọi tên ta, không phải bằng tiếng sấm, nhưng bằng tiếng thì thầm rất dịu dàng trong sâu thẳm: “Con là của Cha. Cha đã gọi con. Cha vẫn yêu con. Hãy ở lại trong tình yêu của Cha.”

Và khi một người biết sống như thế, ơn gọi của họ sẽ không chỉ là một con đường bổn phận, nhưng là một cuộc tình. Không chỉ là gánh nặng, nhưng là ân huệ. Không chỉ là hy sinh, nhưng là hiến dâng. Không chỉ là từ bỏ, nhưng là được thuộc về. Không chỉ là mất đi, nhưng là tìm thấy chính mình trong Thiên Chúa. Bởi vì càng đi vào nội tâm, ta càng khám phá một điều kỳ diệu: ở đáy sâu nhất của lòng mình, ta không gặp một khoảng trống, nhưng gặp một Đấng đang yêu. Ở nơi sâu nhất của ơn gọi, ta không gặp một mệnh lệnh lạnh lùng, nhưng gặp một tiếng gọi đầy tình thương. Ở nơi sâu nhất của đời mình, ta không chỉ gặp chính mình, nhưng gặp Thiên Chúa, Đấng đã âm thầm cư ngụ, chờ đợi, nâng đỡ và biến đổi ta từng ngày.

Đời sống nội tâm trong ơn gọi vì thế là trở về với cõi lòng để gặp Chúa, rồi từ Chúa mà bước ra với anh em. Là lắng nghe trong thinh lặng để phục vụ trong yêu thương. Là để hồng ân nhưng không của Thiên Chúa nảy nở trong sâu thẳm trái tim, rồi sinh hoa trái trong đời sống cụ thể. Là để tiếng gọi của Chúa không chỉ vang lên một lần trong quá khứ, nhưng tiếp tục vang lên mỗi ngày, trong từng chọn lựa, từng hy sinh, từng bổn phận, từng giọt nước mắt, từng niềm vui, từng lần đứng dậy sau yếu đuối.

Xin cho mỗi người chúng ta, dù đang sống ơn gọi nào, cũng biết gìn giữ cõi lòng mình như một cung thánh. Xin cho ta đừng đánh mất chiều sâu giữa một đời quá nhiều tiếng ồn. Xin cho ta đừng biến ơn gọi thành vai diễn, thành chức năng, thành thói quen, thành phương tiện tìm mình. Xin cho ta biết trở về với Chúa mỗi ngày, để được Ngài gọi lại, yêu lại, chữa lành lại và sai đi lại. Bởi vì chỉ ai có Chúa trong lòng mới có thể đem Chúa cho đời. Chỉ ai đã gặp Chúa trong thẳm sâu mới có thể làm chứng về Chúa bằng một đời sống có hồn. Và chỉ ai biết sống từ nội tâm mới có thể trung tín đến cùng với tiếng gọi đã làm nên ý nghĩa đời mình.

Lm. Anmai, CSsR